Sánh Phượng
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Thành ngữ:
- Sánh với chim Phượng Hoàng: Dùng để chỉ việc một người phụ nữ có được người chồng xứng đáng, tài giỏi, cao quý, giống như việc được kết đôi với loài chim quý là Phượng Hoàng. Thành ngữ này thường mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi cho một cuộc hôn nhân tốt đẹp, xứng đôi vừa lứa.
Ví dụ sử dụng
- Thành ngữ:
- Cô ấy lấy được người chồng tài đức vẹn toàn, thật đúng là "sánh Phượng".
- Lời chúc "sánh Phượng" dành cho cô dâu thể hiện mong ước về một cuộc hôn nhân hạnh phúc, viên mãn.
Các cách sử dụng nâng cao
- Thành ngữ "sánh Phượng" thường được sử dụng trong văn chương, thơ ca cổ điển hoặc trong các lời chúc trang trọng, mang sắc thái văn chương, cổ kính.
- Trong thơ xưa, hình ảnh người thiếu nữ "sánh Phượng" thường gắn với ước mơ về một cuộc sống hôn nhân lý tưởng.
Biến thể và từ gần giống
- Sánh đôi: Kết đôi, thành một cặp xứng đôi (nghĩa rộng và phổ biến hơn).
- Xứng đôi vừa lứa: Thành ngữ chỉ một cặp đôi rất hợp nhau, xứng đáng với nhau.
- Loan Phượng hòa minh: Thành ngữ chỉ cảnh vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc (Loan và Phượng là cặp chim quý tượng trưng cho vợ chồng).
Từ đồng nghĩa
- Phu xướng phụ tùy: Chồng nói vợ theo, ý chỉ vợ chồng hòa thuận (có thể dùng trong ngữ cảnh chúc tụng hôn nhân).
- Đẹp đôi: Cách nói hiện đại, giản dị hơn để chỉ một cặp đôi rất hợp nhau.
Nguồn gốc và văn hóa
- Thành ngữ "sánh Phượng" có nguồn gốc từ điển tích Trung Hoa, được ghi lại trong sách Tả Truyện. Câu chuyện kể về việc họ Ý Thị bói quẻ để gả con gái cho Kính Trọng. Lời đoán quẻ có câu "Cát, thị vị phượng hoàng vu phi..." (Tốt, đó là quẻ chim Phượng, chim Hoàng cùng bay...), báo hiệu một cuộc hôn nhân sẽ đem lại phúc lành, con cháu hiển vinh. Từ đó, "sánh Phượng" trở thành thành ngữ chúc phúc cho hôn nhân.
- Trong văn hóa, chim Phượng Hoàng (hay đôi khi tách ra là Phượng và Hoàng) là biểu tượng của sự cao quý, tốt lành và quyền quý. Việc "sánh" với nó thể hiện ước vọng về một vị hôn phu tài giỏi, xuất chúng.
- Sánh với chim Phượng Hoàng, ý nói có người chồng xứng đáng
- Tả Truyện: Xưa kia, họ ý Thị làm quan đại phu nước Trần, muốn gã con gái cho Kính Trọng bèn bói một quẻ. Vợ ý Thị xem quẻ bói và đoán rằng: "Cát thị vị phượng hoàng vu phi, hòa mình tương tương, hữu quý chi hậu, tương dục vu Khương, ngũ thế kỳ xương, tịnh vu chính khanh, bát thế chi hậu, mạc chi dự kinh." (Tốt, đó là quẻ chim Phượng, chim Hoàng cùng bay, tiếng hát nghe vang vang, con cháu họ Quỳ (Họ Kính Trọng, tức họ vua nước Trần) sẽ được nuôi dạy trong nhà họ Khương (họ vua nước Tề) năm đời thịnh vượng, đều ở hàng quan khanh, trải 8 đời không ai hơn được cả.)